Chương 12: Khổng Tử đi đâu rồi (2)
Hắn hạ bút, trích lục lại nội dung từ những dòng chữ vàng:
"Lỗ loạn, Khổng Tử thích Tề. Chiêu Công nhị thập thất niên, Tề đại phu dục hại Khổng Tử, Khổng Tử toại hành, phản hồ Lỗ. Diên Lăng Quý Tử thích Tề, trưởng tử tử, táng ư Doanh Duẫn chi gian, Khổng Tử viết: 'Diên Lăng Quý Tử, Ngô chi tập ư lễ giả dã.' Vãng nhi quan táng yên."
Như vậy, cả ba địa danh Tề, Lỗ và Ngô đều xuất hiện đầy đủ.
Sau khi hoàn thành câu đầu tiên, Phương Vận nhìn nét chữ không mấy ngay ngắn của mình, đưa tay lau đi mồ hôi rớm trên trán.
"Kỳ thi Đồng Sinh này cũng khó khăn quá rồi!"
Hắn thầm than vãn một câu, nhận ra những cuốn sách trong đầu đã biến mất, liền không tự chủ được mà suy đoán về lai lịch của chúng.
Lúc thư viện bốc cháy rồi nhảy lầu, miếng ngọc bội hình rồng đeo trên người hắn đã vỡ nát, sau đó hắn không còn nhớ gì nữa. Những cuốn sách này không thể tự nhiên chui vào đầu hắn được, thảy đều là sách của thư viện Đông Giang. Mẫu thân từng nói ngọc bội này do phụ thân để lại, dặn hắn phải luôn mang theo bên mình để được bảo hộ. Chẳng lẽ việc hắn có thể sống lại thực sự là nhờ công lao của miếng ngọc bội kia?
Phương Vận suy nghĩ một lát rồi nhanh chóng thu hồi tâm trí, tập trung làm tiếp câu thứ hai.
Câu thứ hai hỏi về câu nói "Quả nhân rất hổ thẹn với Mạnh Tử" được Tề Tuyên Vương thốt ra vào thời gian nào. Lần này, sách cổ lập tức hiện lên, Phương Vận nhanh nhẹn đặt bút viết: Chu Noãn Vương năm thứ ba.
Hắn đưa bút như bay, liên tiếp hoàn thành vài câu hỏi. Nhận thấy ngoại trừ câu đầu tiên ra thì những câu sau không quá phức tạp, hắn mới dần thả lỏng tâm tình.
Phương Vận điều chỉnh lại nhịp thở, chủ động giảm tốc độ, bắt đầu nắn nót từng nét một. Hắn biết rõ kỳ thi này có phần "điểm chữ nghĩa", nếu viết quá cẩu thả, dù có đáp đúng toàn bộ thì thứ hạng cũng bị hạ thấp.
Nét chữ bút lông của cả hai linh hồn trước đây đều không tốt, nhưng lúc này muốn luyện chữ thì đã muộn, chỉ có thể cắn răng vượt qua kỳ thi Đồng Sinh này rồi tính tiếp.
Đến câu thứ mười bốn, Phương Vận nhìn chằm chằm vào bài thi, không vội vã đặt bút. Điều hắn lo lắng nhất cuối cùng đã xảy ra.
Nơi này chung quy là Thánh Nguyên Đại Lục, không phải địa cầu.
Chư thánh ở thế giới này ngoài những vị trùng tên với địa cầu ra, còn có những vị Bán Thánh chưa từng xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa cổ đại. Thư viện Đông Giang đương nhiên không thể có tác phẩm của những người này.
Trong kỳ thi Đồng Sinh và Tú Tài có một quy định ngầm nghiêm ngặt.
Kỳ thi Tú Tài có rất nhiều bài thi về Thánh ngôn, có thể đảm bảo tác phẩm của mỗi vị chư thánh đều được tra hỏi. Thế nhưng kỳ thi Đồng Sinh thì lại khác.
Tuy bài thi Đồng Sinh có tới ba mươi tờ giấy, nhưng do chữ viết bằng bút lông khá lớn nên dung lượng thực tế ít hơn tưởng tượng rất nhiều, chỉ có thể giới hạn trong một số đề bài nhất định, mà số lượng chư thánh lại quá đông.
Khổng Tử và sáu vị Á Thánh có địa vị tối cao, hiển nhiên phải chiếm tới một nửa số câu hỏi. Những tác phẩm của các vị Bán Thánh dẫn dắt thời kỳ Bách Gia Tranh Minh cũng là phần bắt buộc phải thi, nhằm thể hiện tư tưởng bách gia quy Nho, nói theo cách của địa cầu chính là việc giữ vững "mặt trận thống nhất" hay "tính chính trị chính xác".
Bên cạnh đó, tác phẩm của những vị Bán Thánh có địa vị lịch sử cực cao cũng chắc chắn xuất hiện, chẳng hạn như tư tưởng Đại Nhất Thống của Đổng Trọng Thư, tinh thần Cúc Cung Tận Tụy của Gia Cát Lượng, hay thi phú của Đào Uyên Minh.
Chính vì thế, số lượng câu hỏi còn sót lại là rất ít, các vị Bán Thánh khác hoàn toàn không có chỗ đứng.
Từ đó, một quy luật đã hình thành: phần thi Thánh ngôn của kỳ thi Đồng Sinh luôn được chia làm ba bộ phận.
Bộ phận thứ nhất là tác phẩm của những vị chư thánh lừng danh, năm nào cũng bắt buộc phải thi.
Bộ phận thứ hai là danh tác của ba vị Bán Thánh giữ vai trò giám khảo của năm đó.
Bộ phận thứ ba là trích đoạn từ tác phẩm của các vị Bán Thánh còn lại, mỗi năm tuyển chọn từ ba đến năm bộ để luân phiên đưa vào đề.
Phương Vận tự thấy mình còn gặp may, bởi vì ngoài ba vị Bán Thánh giám khảo ra, những tác phẩm của chư thánh xuất hiện trong đề thi Đồng Sinh năm nay đều từng tồn tại ở địa cầu, và thư viện Đông Giang đều có lưu trữ.
Trước khi kỳ thi Đồng Sinh diễn ra, ngay khi danh tính của các vị Bán Thánh giám khảo được công bố, các sĩ tử khắp nơi đã dành phần lớn thời gian để học thuộc lòng các tác phẩm nổi tiếng của họ.
Đề bài về các vị chư thánh khác có thể khó dễ khôn lường, nhưng câu hỏi liên quan đến Bán Thánh giám khảo đương nhiệm lại luôn vô cùng đơn giản.
Bởi lẽ những vị Bán Thánh còn sống đều là Tân Thánh, căn cơ chưa vững, họ rất cần vang danh thiên hạ, đương nhiên muốn người đời biết đến những tác phẩm đắc ý của mình.
Nói theo cách ở kiếp trước thì đây chính là câu hỏi tặng điểm. Sĩ tử thư sinh được lợi sẽ thầm cảm kích, mà danh tiếng của Tân Thánh cũng nhờ đó mà lan xa, đôi bên cùng có lợi.
Phương Vận nghĩ đến đây liền hoàn toàn an tâm, bởi vì từ tháng trước hắn đã bắt đầu học thuộc lòng danh tác của ba vị Bán Thánh giám khảo.
Câu thứ mười bốn quả thực rất đơn giản, hỏi về thời gian và địa điểm chứng đạo của một vị Bán Thánh tên là Mễ Phụng Điển. Phương Vận tuy nhất thời chưa nhớ ra ngay, nhưng hắn có cảm giác bản thân chắc chắn biết câu trả lời.
Mễ Phụng Điển là một trong ba vị Bán Thánh giám khảo của kỳ thi Đồng Sinh lần này, danh tiếng đã truyền khắp thiên hạ trước ngày mở khoa thi.
Hắn trầm tư một lát, liền hạ bút viết: Năm Thánh lịch thứ một trăm bốn mươi lăm, mùa thu, Thục quốc, Thục đô.
Ngay khi vừa viết xong, Phương Vận chợt nhận thấy trong đầu hiện lên một cuốn sách cổ màu xám xanh trống rỗng. Sau đó, một mảnh ký ức nhỏ bay thẳng vào trong trang sách.
Cuốn sách trống rỗng kia lập tức biến đổi, hiện lên hàng chữ 《 Phụng Điển Ngũ Kinh Chú 》(quyển một), tác giả Mễ Phụng Điển, Bán Thánh, chứng đạo năm thứ năm mươi sáu.
Tiếp theo đó, hàng loạt cuốn sách cổ trống rỗng khác liên tục xuất hiện, chắt lọc những mảnh ký ức của Phương Vận để hình thành nên những cuốn văn tập, thi tập của Mễ Phụng Điển. Tổng cộng có năm cuốn, tuy không hoàn chỉnh, có cuốn chỉ có quyển một, có cuốn lại là tàn thiên.
Phương Vận lộ rõ vẻ vui mừng, không ngờ mọi chuyện lại diễn biến theo hướng này.
Hắn không rõ thứ kỳ lạ đó rốt cuộc là gì, nhưng nó vừa chứa đựng lượng sách khổng lồ, lại vừa có thể hấp thu thêm sách mới, vậy thì cứ gọi nó là "Kỳ Thư Thiên Địa" đi.
Câu hỏi tiếp theo vẫn liên quan đến một vị Bán Thánh của Thục quốc, chính là Gia Cát Lượng, có điều vị này hiện tại đã cưỡi hạc về tây.
Gia Cát Lượng ở thế giới này có những trải nghiệm khác biệt so với địa cầu, Phương Vận phải dành chút thời gian suy ngẫm để tránh sai sót.
Khi xưa Lưu Bị lập quốc, đặt quốc hiệu là "Hán", tự coi mình là dòng dõi chính thống của nhà Hán, chưa từng dùng danh xưng Thục quốc. Chỉ là những thế lực khác không thừa nhận, cố tình gọi là Thục quốc với ý vị khinh miệt, và hậu thế cứ thế dùng theo.
Tại Thánh Nguyên Đại Lục, Lưu Bị cũng lập ra nước "Hán", chí hướng kế thừa giang sơn Đại Hán, thống nhất Thánh Nguyên Đại Lục. Thế nhưng triều đại này lại bị Đông Ngô và Ngụy quốc liên minh kìm hãm, cuối cùng không thể không đổi quốc hiệu thành "Thục". Nhờ có Bán Thánh Gia Cát Lượng dốc sức phò tá, Thục quốc mới có thể duy trì và tồn tại vững vàng, trở thành một trong mười quốc gia như ngày nay.
Có Kỳ Thư Thiên Địa trong tay, Phương Vận lại càng thêm thấu hiểu về vị Gia Cát Lượng của địa cầu.