Chương 9
"Không cần đâu, hiện tại quan chủ không có ở đây. Buổi tối khi nàng trở về, ta sẽ thưa lại chuyện này. Nàng nhất định sẽ ra tay... Hà sư phó, ngài cứ yên tâm."
"Có thật không?" Thê tử của Hà thợ mộc vẫn có chút hoài nghi.
"Đương nhiên là thật rồi." Đại Lang cố rặn ra một nụ cười thoải mái: "Quan chủ của chúng ta thần thông quảng đại, việc gì cũng có thể làm được. Chỉ là một mạng người mà thôi, nàng nhất định có cách. Ngài mau trở về chăm sóc cho Hà sư phó đi."
Thê tử của Hà thợ mộc nhất thời luống cuống, một lúc lâu sau mới ngập ngừng đáp:
"Vậy... vậy ta về trước. Ngày mai ta lại đến."
"Ừm, ngài về trước đi."
Chật vật lắm mới khuyên nhủ được mẫu thân rời đi, Đại Lang lập tức xoay người chạy như bay vào trong đạo quan, lớn tiếng khóc lóc:
"Quan chủ! Ngài có ở đây không? Ta đồng ý giao đầu lưỡi cho ngài rồi, cầu xin ngài cứu cha ta có được không?!"
Ngoài cửa, Tam Nương nhìn dáng vẻ Đại Lang liều mạng dập đầu đến chảy máu, trong lòng dâng lên một nỗi xót xa, nghẹn lời không nói nên câu.
"Quan chủ!"
Mặc cho Đại Lang gào khóc thảm thiết thế nào, Phó Yểu vẫn thủy chung không chịu lộ diện.
Đến cuối cùng, chính Đại Lang cũng rơi vào tuyệt vọng, hắn quỳ rạp trên mặt đất mà thút thít, dù rằng đôi mắt hắn không thể rơi ra giọt nước mắt nào.
Đúng lúc này, một giọng nói thản nhiên vang lên bên tai hắn:
"Cha chết con sống, có lẽ đời này ngươi sẽ không bao giờ được gặp lại ông ấy nữa đâu."
Lời nói này giống như một thanh kiếm sắc bén đâm thẳng vào tim Đại Lang, đau đớn đến mức khiến hắn suýt chút nữa ngừng thở. Chính vào khoảnh khắc ấy, từ nơi khóe mắt khô khốc của hắn bỗng xuất hiện một tia sáng — một giọt nước mắt óng ánh chậm rãi lăn dài xuống.
Khi giọt nước mắt ấy đang lơ lửng giữa không trung, một bàn tay thon dài lặng lẽ vươn ra, đón lấy nó.
"Quả nhiên là rất đẹp."
Phó Yểu nâng giọt nước mắt trong lòng bàn tay lên. Dưới ánh trăng thanh khiết, giọt lệ hóa thành một viên bảo thạch lung linh, khúc xạ ra thứ ánh sáng say đắm lòng người, đẹp đẽ vô ngần.
"Tiểu nô lệ, lần này ngươi xem như đã giao ra một thứ vượt quá giá trị rồi đấy."
Đại Lang không ngờ nàng lại đột nhiên xuất hiện, hắn ngẩn người ra một chút rồi vội vàng khẩn cầu:
"Quan chủ, cầu xin ngài cứu cha ta, ta nguyện ý dâng hiến đầu lưỡi của mình cho ngài."
"Nể tình giọt lệ quỷ này, ta sẽ không tăng giá nữa." Phó Yểu thong thả nói: "Về phần bệnh tình của cha ngươi, vị đại phu kia nói không sai, căn bệnh đó cần rất nhiều dược liệu đắt đỏ để duy trì mạng sống. Chỉ cần có tiền thì ông ấy vẫn có thể nhảy nhót tưng bừng như người bình thường thôi. Nói trắng ra, chung quy vẫn là vấn đề bạc."
"Thế nhưng tình trạng hiện tại của ông ấy thực sự rất tồi tệ."
"Cứ để ngày mai ông ấy lên núi là được."
Chạng vạng tối ngày hôm sau, thê tử của Hà thợ mộc nhờ mấy người trong thôn hỗ trợ khiêng trượng phu lên núi. Lúc này, nàng phát hiện trong đạo quan đã có thêm một vật thể lạ — ngay giữa lối đi của khoảng sân xuất hiện một chiếc đỉnh lớn.
Chiếc đỉnh này có vẻ ngoài khá cổ xưa, bề mặt loang lổ những vết rỉ sét. Bên trong đỉnh rải một tầng cát trắng tinh, ngoài ra không có thêm thứ gì khác.
Vòng qua chiếc đỉnh lớn, trước cửa chính của gian nhà, cả Tam Nương và Đại Lang đều đã đợi sẵn ở đó.
"Đến bao nhiêu người rồi?"
Từ phía sau tượng Tam Thanh truyền đến thanh âm của Phó Yểu, âm lượng vừa vặn để những thôn dân đang đứng gần đó đều nghe thấy rõ ràng.
Đại Lang đáp: "Tổng cộng có hai mươi bảy người."
"Người nào cầm tinh con Gà thì lui ra ngoài né tránh, những người còn lại mỗi người thắp một nén nhang."
"Nhang sao?"
Đại Lang ngớ người, bọn họ dường như không chuẩn bị thứ này.
May thay, Phương Nhị đã chủ động bước ra: "Để ta xuống núi lấy ngay."
Trong nhà hắn vẫn còn dư lại một ít nhang đèn từ dịp Tết Thanh Minh trước đó. Nhắc tới mới nhớ, từ lúc tới đây hắn cũng chưa từng thắp cho đạo quan này nén nhang nào.
Hắn vội vã chạy đi rồi cũng vội vã quay lại. Từng người một nhận lấy nén nhang, châm lửa, thành kính vái lạy trước tượng Tam Thanh rồi cắm vào bên trong chiếc đỉnh lớn.
Chẳng biết vì lẽ gì, nhang sau khi cắm vào cát trắng lại cháy với tốc độ cực kỳ nhanh chóng. Một nén nhang thông thường phải mất tới một khắc đồng hồ mới cháy hết, vậy mà lúc này chỉ trong vài nhịp thở đã cháy lụi thành tro. Những người đứng xem xung quanh ai nấy đều thầm kinh hãi trong lòng.
Sau khi nhang đã cháy hết, Tam Nương cầm lấy một chén rượu, gạt một nhúm tàn hương còn sót lại cho vào trong chén. Trước thanh thiên bạch nhật và sự chứng kiến của bao người, nàng đổ thêm rượu vào, rồi cẩn thận đút cho Hà thợ mộc uống cạn.
Một chén rượu tro vừa vào bụng, sắc mặt Hà thợ mộc lập tức trở nên hồng nhuận. Chỉ một lát sau, y đã có thể tự mình ngồi dậy từ trên tấm ván cửa.
"Khỏi thật rồi!"
Hiệu quả thần tốc này khiến tất cả mọi người có mặt tại đó đều trợn mắt há mốc mồm.
Đại Lang cũng vui mừng khôn xiết, hắn định bước lên phía trước để kiểm tra xem phụ thân có thực sự không sao nữa hay không. Chẳng qua chưa kịp đến gần thì Hà thợ mộc đã bị người dân làng vây kín xung quanh.
Trong khoảnh khắc ấy, một cảm giác cô tịch khó tả bỗng dâng lên trong lòng Đại Lang.
Dù hiện tại hắn đang đứng ngay cạnh cha mẹ mình, nhưng ranh giới giữa sự sống và cái chết vốn là một khoảng cách không thể vượt qua. Nó chia cắt bọn họ ở hai đầu thế giới, khiến cho niềm vui hay nỗi buồn của họ chẳng thể nào đồng điệu được nữa.
"Các ngươi giải tán đi, ngày mai hãy quay lại." Tam Nương lên tiếng đuổi khéo mọi người.
"Được, được rồi." Thê tử của Hà thợ mộc vội vàng cúi đầu vâng dạ. Những người khác cũng học theo nàng, rối rít khom lưng chào rồi lần lượt rời khỏi đạo quan.
Đám đông đã giải tán, đạo quan lại khôi phục dáng vẻ yên ắng như tờ. Đại Lang ủ rũ ngồi bệt trên bậc thềm đá xanh cũ kỹ, gương mặt lộ rõ vẻ cô đơn.
Tam Nương bước vào trong phòng, thấp giọng hỏi:
"Ngài đã sớm biết Hà thợ mộc có bệnh từ trước rồi sao?"
"Ừm."
Phó Yểu lười biếng xoay viên bảo thạch bằng nước mắt trên tay, hờ hững đáp một tiếng.
"Cho nên, ngay từ đầu ngài đã có ý muốn giúp đỡ Đại Lang rồi?"
Động tác trên tay Phó Yểu bỗng khựng lại, nàng bật cười giễu cợt:
"Ngươi xem, ngươi lại tự ý dùng suy nghĩ của mình để phỏng đoán người khác rồi. Ta biết Hà thợ mộc có bệnh là bởi vì ta có bản lĩnh đó; ta làm giao dịch với Đại Lang là vì đôi bên đều có thứ mà đối phương cần, đây là một cuộc giao dịch công bằng. Còn ngươi, ban đầu vì sợ hãi ta nên mới nảy sinh thành kiến, nghĩ rằng ta tâm địa độc ác; sau đó thấy ta ra tay cứu sống Hà thợ mộc, ngươi lại cho rằng ta thực chất có một tấm lòng lương thiện. Phó Tam à, lòng người trên thế gian này đâu có dễ dàng bị nhìn thấu như ngươi nghĩ."